Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Giới thiệu cùng bạn: Đầu tư ngành điện, rộn ràng khối nội

Đáng chú ý, năm ngoái, REE đã bổ sung thêm loại hình phát điện vào danh mục đầu tư. Cụ thể, Công ty Điện Thuận Bình (công ty liên kết của REE) đã khởi công xây dựng Nhà máy Điện gió Phú Lạc 1 với công suất thiết kế 24MW tại Bình Thuận.Tính đến cuối năm 2015, REE đã đầu tư 3.509 tỷ đồng vào hạ tầng điện, chiếm đến 71% trong danh mục đầu tư mảng hạ tầng cơ sở của DN này (còn có than, nước, bất động sản). Tuy doanh thu và lợi nhuận của mảng điện tạm thời sụt giảm (lợi nhuận giảm đến 48,1%) do biến động của tỷ giá và khô hạn, vốn ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà máy thủy điện, nhưng REE vẫn tiếp tục mở rộng đầu tư vào ngành điện.
Hiện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các công ty con và doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 70% công suất phát điện nhưng dự kiến, trong giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ các nhà máy điện có vốn đầu tư tư nhân sẽ tăng mạnh, chiếm khoản 46% công suất phát điện cả nước.
Mới đây, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đã thông báo về việc chọn nhà đầu tư đủ điều kiện mua trọn cổ phần (khoảng 111 triệu cổ phần) của doanh nghiệp (DN) này tại 5 công ty thủy điện, với giá bán khởi điểm trên 1.414 tỷ đồng. Hai trong số ba nhà đầu tư vượt qua vòng chọn thầu là những gương mặt có vị thế trên thị trường.
Cụ thể là Công ty CP Điện Gia Lai thuộc Tập đoàn Thành Thành Công (TTC) của gia đình ông Đặng Văn Thành và Công ty CP Cơ điện lạnh (HOSE: REE) - top 30 DN có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường chứng khoán.
Cả TTC và REE đều đã có bề dày thành tích trong ngành điện. Theo đó, TTC, với ưu thế sở hữu nhiều nhà máy đường nên bên cạnh 19 nhà máy thủy điện, còn làm chủ 7 nhà máy nhiệt điện (sử dụng nguồn bã mía để đốt), với tổng công suất đạt 350MW. Còn REE, tính đến cuối năm 2015, đã sở hữu các nhà máy nhiệt điện, thủy điện có tổng công suất 593MW.
Năm ngoái, khi trao đổi với Doanh Nhân Sài Gòn về mối quan tâm của nhà đầu tư tư nhân đối với cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch HĐQT REE cho rằng, kinh tế Việt Nam đang phát triển, nên những hạ tầng thiết yếu như nước, điện luôn phát sinh nhu cầu. Do đó, đây là những khoản đầu tư mà REE đặc biệt quan tâm.
Được biết, bên cạnh lĩnh vực truyền thống là cơ điện lạnh, năm 2010, REE còn tham gia đầu tư vào hạ tầng điện và nước. Báo cáo thường niên năm 2015 của REE cho thấy, song song với việc nắm 60% cổ phần tại Công ty CP Thủy điện Thác Bà (DN sở hữu nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam, với tổng công suất thiết kế 120MW và là một trong số gần 40 nhà máy thủy điện lớn tại Việt Nam), REE còn đầu tư vào nhiều DN phát điện dưới hình thức công ty liên kết, nắm giữ hàng loạt công trình lớn, như Nhà máy Thủy điện Thác Mơ (công suất 150MW, tại Bình Phước), Nhà máy Thủy điện Srok Phu Mieng (công suất 51MW, tại Bình Phước), Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ (công suất 220MW, tại Phú Yên), Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại (công suất 1.040MW, tại Hải Dương), Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh (công suất 1.200MW).

Đáng chú ý, năm ngoái, REE đã bổ sung thêm loại hình phát điện vào danh mục đầu tư. Cụ thể, Công ty Điện Thuận Bình (công ty liên kết của REE) đã khởi công xây dựng Nhà máy Điện gió Phú Lạc 1 với công suất thiết kế 24MW tại Bình Thuận.Tính đến cuối năm 2015, REE đã đầu tư 3.509 tỷ đồng vào hạ tầng điện, chiếm đến 71% trong danh mục đầu tư mảng hạ tầng cơ sở của DN này (còn có than, nước, bất động sản). Tuy doanh thu và lợi nhuận của mảng điện tạm thời sụt giảm (lợi nhuận giảm đến 48,1%) do biến động của tỷ giá và khô hạn, vốn ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà máy thủy điện, nhưng REE vẫn tiếp tục mở rộng đầu tư vào ngành điện.
Dự kiến, vào cuối năm nay, khi nhà máy này hoạt động sẽ cung ứng sản lượng điện hằng năm khoảng 59 triệu kWh, đồng thời đây cũng là khởi đầu của REE cho việc tiếp tục phát triển điện gió tại Bình Thuận và Ninh Thuận.
Không chỉ REE, TTC mà từ năm 2008 đến nay, nhiều DN tư nhân trong nước đã mạnh dạn đầu tư vào ngành điện bằng hình thức đầu tư mới hoặc mua bán - sáp nhập (M&A). Chẳng hạn như Tập đoàn Bitexco, Hoàng Anh Gia Lai (HAGL), Hưng Hải Group (sở hữu khoảng 20 nhà máy thủy điện, tổng công suất 550MW, chủ yếu tại Lai Châu, Điện Biên), Trung Nam Group (đầu tư nhà máy điện gió 3.965 tỷ đồng tại Ninh Thuận, cùng các thủy điện tại Đồng Nai, Đắk Lắk, Lâm Đồng), Công ty CP ĐT BĐS Hưng Lộc Phát...
Đáng chú ý, năm 2012, HAGL đã đưa 4 trong số 8 công trình thủy điện tại Việt Nam và Lào vào hoạt động, với tổng công suất 141,5MW. Tuy nhiên, đến giữa năm 2013, trong chiến lược tái cấu trúc, HAGL đã bán 4 nhà máy thủy điện cho Tập đoàn Bitexco. Dù thông tin về bên mua khi đó được giữ kín nhưng sau đó ít lâu, trên website của Bitexco, không chỉ 4 mà có đến 6 nhà máy thủy điện từng thuộc sở hữu của HAGL đã xuất hiện.
Cũng liên quan đến mảng thủy điện của HAGL, đại diện Công ty CP Hưng Lộc Phát tiết lộ đang nghiên cứu để có thể mua lại 2 nhà máy thủy điện của HAGL ở Lào, với công suất trên 100MW. Được biết, ngoài khai thác, kinh doanh vật liệu xây dựng và bất động sản, Hưng Lộc Phát đặt mục tiêu mở rộng mảng năng lượng (điện) từ đây đến năm 2020. Hiện, DN này đang sở hữu Nhà máy Thủy điện Đa Dâng 3, Nhà máy Thủy điện Quảng Sơn.
Ông Nguyễn Dư Lực - Chủ tịch HĐQT Hưng Lộc Phát cho rằng, điện là lĩnh vực đầu tư dài hạn, thường 7 - 8 năm mới thu hồi vốn, ngành này cho lợi tức ổn định nếu nhà đầu tư "khéo vén" và sở hữu được những nhà máy có tổng công suất lớn (khoảng từ 150MW trở lên).

Vì sao có chuyện thị trường bia sẽ vào tay nước ngoài?

Về mặt thương hiệu, dù năm ngoái Sabeco đã chi ra số tiền cho quảng cáo, tiếp thị lên gần 1.300 tỷ đồng, cao gấp 3 lần so với chi phí marketing của 3 năm trước nhưng thống kê của trang Buzzmetrics chỉ ra, thương hiệu Bia Sài Gòn của Sabeco vẫn xếp sau 3 thương hiệu Tiger, Heineken và Budweiser. Đặc biệt, Heineken gần như không có đối thủ ở phân khúc cao cấp. Điều này đã lý giải phần nào vì sao Heineken thường bỏ xa Sabeco về mặt lợi nhuận dù thị phần thua kém. Và cũng lý giải vì sao Heineken lại xem Việt Nam là thị trường quan trọng thứ 2, chỉ sau Mexico.
Sau nhiều năm trì hoãn, mới đây Chính phủ tuyên bố sẽ thoái toàn bộ 82% vốn đang nắm giữ tại Habeco ngay trong năm 2016. Còn tại Sabeco, lộ trình thoái hơn 89% vốn sẽ chia làm 2 đợt. Đợt 1, Sabeco sẽ chào bán 53,59% vốn trong năm nay. Số cổ phần còn lại sẽ được thoái vào năm sau.
Quá tầm với nhà đầu tư nội
Ngay sau khi tin tức loan đi, theo hãng tin Wall Street Journal, Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken của Hà Lan, Anheuser-Busch InBev của Mỹ, SABMiller của Anh đều bày tỏ ý muốn tham gia mua cổ phần của Sabeco và Habeco. Hãng Bloomberg dẫn lời ông Lê Hồng Xanh - TGĐ Sabeco cho biết thêm, Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) cũng là một đơn vị nằm trong danh sách nhà đầu tư tiềm năng.
Tuy nhiên, khả năng các công ty nội địa trở thành đối tác chiến lược của Sabeco được đánh giá khó xảy ra. Bởi căn cứ mức giá cổ phiếu Sabeco đang giao dịch trên sàn OTC khoảng 80.000 đồng/CP. Ước tính, để nắm giữ hơn 53% cổ phần của Sabeco, nhà đầu tư phải chi ra tối thiểu 2 tỷ USD. Đây là số tiền rất lớn so với năng lực tài chính của các công ty trong nước.
Ứng cử viên sáng giá nhất trong cuộc chạy đua đặt chân vào Sabeco đang thuộc về Heineken. Hiện tại, Heineken đã nắm giữ khoảng 5% cổ phần và có ý định trở thành cổ đông chiến lược của Sabeco.
Theo số liệu của Euromonitor, hơn 80% thị phần toàn thị trường bia Việt Nam hiện nằm trong tay của 3 doanh nghiệp là Sabeco, VBL (nay là Heineken, sở hữu các thương hiệu như Heineken, Tiger, Larue...) và Habeco. Nhưng nếu như Sabeco nắm giữ khoảng 40% thị phần thì Heineken lại chỉ nắm khoảng 20%. Gia tăng sở hữu ở Sabeco sẽ giúp Heineken rút ngắn khoảng cách thị phần với Sabeco.
Heineken đã và đang chạy đua cạnh tranh trên thị trường bia Việt Nam. Năm 2015, Heineken lần đầu tiên vượt qua Habeco để vươn lên vị trí thứ 2 về sản lượng ngành bia trong khi Sabeco gần như không có sự tăng trưởng về sản lượng.
Về mặt thương hiệu, dù năm ngoái Sabeco đã chi ra số tiền cho quảng cáo, tiếp thị lên gần 1.300 tỷ đồng, cao gấp 3 lần so với chi phí marketing của 3 năm trước nhưng thống kê của trang Buzzmetrics chỉ ra, thương hiệu Bia Sài Gòn của Sabeco vẫn xếp sau 3 thương hiệu Tiger, Heineken và Budweiser.
Đặc biệt, Heineken gần như không có đối thủ ở phân khúc cao cấp. Điều này đã lý giải phần nào vì sao Heineken thường bỏ xa Sabeco về mặt lợi nhuận dù thị phần thua kém. Và cũng lý giải vì sao Heineken lại xem Việt Nam là thị trường quan trọng thứ 2, chỉ sau Mexico.
Quyết tâm của nhà đầu tư ngoại
Để củng cố vị thế trong phân khúc dòng bia phổ thông, Heineken có thể chi đậm để sở hữu ở Sabeco. Nhưng không chỉ Heineken, ThaiBev- hãng bia nổi tiếng của Thái Lan cũng tỏ ra quyết tâm sở hữu một phần Sabeco. Tháng 11/2014, ThaiBev đã ngỏ ý muốn sở hữu 53% cổ phần ở Sabeco và định giá Sabeco khoảng 2 tỷ USD.
Đến tháng 2/2015, ThaiBev lại lên tiếng muốn mua 40% cổ phần của Sabeco với giá trị 1 tỷ USD. ThaiBev cho thấy họ sẵn sàng trả giá cao để mua cổ phần Sabeco như bước đệm để tiến bước nhanh nhất vào thị trường Việt Nam.
Riêng Carlsberg - hãng bia lớn thứ 3 thế giới và đang nắm giữ 10% thị phần bia ở Việt Nam lại hướng chú ý đến Habeco. Đầu tháng 9 vừa qua, Carlsberg đã bán nhà máy tại Bà Rịa - Vũng Tàu như một cách dồn lực tập trung vào thị trường phía Bắc.
Carlsberg đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sở hữu tại Habeco từ 17% lên mức 30%. Ngoài sở hữu cổ phần ở Habeco, Carlsberg còn nắm 100% cổ phần của bia Huế (Huda Beer), 60% cổ phần liên doanh Nhà máy Bia Đông Nam Á (Halida) cùng một số công ty nhỏ khác.
Sự quyết tâm của ThaiBev hay sự tích cực chạy đua của những tên tuổi lâu năm như Heineken, Carlberg trong giành quyền sở hữu ở Sabeco, Habeco cho thấy, thị trường bia Việt Nam rất hấp dẫn. Theo báo cáo của Hiệp hội Bia - Rượu – Nước giải khát Việt Nam, năm 2015, người Việt đã tiêu thụ khoảng 3,4 tỷ lít bia, tăng 10% so với năm 2014 và tăng gần 41% so với năm 2010.
Đáng nói là mức tiêu thụ bia của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng mạnh bất chấp thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng cho bia kể từ đầu năm nay. Và Việt Nam đã thành quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á, đứng thứ 3 thế giới (sau Nhật, Trung Quốc) về tiêu thụ bia. Với sức hấp dẫn này, Việt Nam cũng là một trong những thị trường lý tưởng để các hãng bia thế giới tăng cường hiện diện và dồn lực đầu tư.
Sau khi gia nhập thị trường Việt Nam thông qua liên doanh với Vinabata, Sapporo Holdings - tập đoàn bia hàng đầu Nhật Bản đã mua lại toàn bộ cổ phần của Vinataba trong liên doanh. Sau đó, Sapporo đã thay đổi nhận diện bao bì sản phẩm và đã mở rộng mạng lưới phân phối với 4.000 cửa hàng trên khắp cả nước chỉ sau 5 năm.
Riêng AB-InBev (Mỹ) đã khánh thành nhà máy bia 50 triệu lít/năm tại Bình Dương vào tháng 5 năm ngoái. Theo kế hoạch, công suất nhà máy của AB-InBev tại Việt Nam sẽ tăng lên 100 triệu lít/năm trong thời gian tới và sản phẩm sẽ chủ yếu phục vụ cho thị trường Việt Nam.
Hay Singha - hãng bia đứng đầu của Thái Lan đã rót vốn để nắm giữ 25% cổ phần tại Masan Consumer Holdings - đơn vị đầu tư Nhà máy Bia Masan Brewery HG tại Hậu Giang, với công suất 100 triệu lít/năm. Đặc biệt, Heineken mới đây đã mua thêm nhà máy Carlsberg ở Vũng Tàu và đổi tên Công ty Bia Việt Nam thành Công ty Heineken Việt Nam.
Những đầu tư mạnh mẽ này hứa hẹn sẽ dần làm thay đổi thứ bậc trên thị trường bia. Trong đó, thứ hạng dẫn đầu của Sabeco, Habeco có nguy cơ bị đe dọa. Các chuyên gia còn dự báo, dù Heineken hay bất cứ một hãng bia nước ngoài nào sở hữu cổ phần ở Sabeco, Habeco thì sớm muộn gì thị trường bia Việt Nam cũng sẽ là "cuộc chơi" của những hãng bia ngoại.

Chia sẻ tin vui cùng bạn dệt may vẫn hấp dẫn nhà đầu tư

Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Hồng Giang - Phó chủ tịch Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam cho rằng, 2 năm trước đây, các DN tăng tốc đầu tư vào Việt Nam là nhằm đón đầu Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thông qua để hưởng thuế suất nhập khẩu 0%. Tuy nhiên, do những diễn biến hiện nay mà cụ thể là do tác động từ cuộc bầu cử tổng thống của nước Mỹ nên các DN nước ngoài đang nghe ngóng tình hình và thận trọng hơn trong quyết định đầu tư.
Trong 2 năm 2014 - 2015, thị trường chứng kiến sự "đổ bộ” của các doanh nghiệp (DN) FDI vào lĩnh vực dệt may Việt Nam. Riêng năm 2015 đã có 2 tỷ USD vốn FDI đổ vào ngành dệt may và phần lớn trong số này là các cụm liên hoàn, từ sản xuất sợi, dệt nhuộm, hoàn tất vải và may xuất khẩu. Trong đó, chỉ tính 3 nhà máy FDI lớn đã có số vốn đầu tư lên đến 1 tỷ USD.
Cụ thể là nhà máy của Công ty TNHH Hyosung Đồng Nai chuyên sản xuất và gia công các loại sợi của nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ có tổng vốn đầu tư lên đến 660 triệu USD. Nhà máy sản xuất nguyên phụ liệt dệt may của Công ty TNHH Polytex Far Eastern (Đài Loan) có vốn đăng ký 274 triệu USD và Công ty TNHH Worldon Việt Nam (Hong Kong) tăng vốn thêm 160 triệu USD để mở rộng sản xuất...
Sóng đã qua?
Thế nhưng từ đầu năm đến nay, làn sóng đầu tư của DN FDI dệt may đã chững lại. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong danh sách các dự án FDI lớn đăng ký trong 5 tháng đầu năm 2016 không có dệt may, và những dự án đăng ký quy mô vài trăm triệu USD đều thuộc về các lĩnh vực sản xuất giấy, bất động sản, linh kiện điện tử, điện gió...
Chia sẻ về vấn đề này, ông Nguyễn Hồng Giang - Phó chủ tịch Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam cho rằng, 2 năm trước đây, các DN tăng tốc đầu tư vào Việt Nam là nhằm đón đầu Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thông qua để hưởng thuế suất nhập khẩu 0%. Tuy nhiên, do những diễn biến hiện nay mà cụ thể là do tác động từ cuộc bầu cử tổng thống của nước Mỹ nên các DN nước ngoài đang nghe ngóng tình hình và thận trọng hơn trong quyết định đầu tư.
Đồng tình với nhận định trên, ông Phạm Xuân Hồng - Chủ tịch Hội Dệt - May - Thêu - Đan TP.HCM nói thêm, có những dự án trên thực tế chỉ mất 3 năm để đi vào hoạt động nhưng vì chờ TPP có hiệu lực nên các DN lùi thời hạn triển khai một vài năm khiến tình hình đầu tư chậm lại. "Các nhà đầu tư đang chậm lại để theo dõi diễn biến của TPP chứ không phải do tình hình kinh tế Việt Nam", ông Hồng nói.
Theo ông Giang, có 3 làn sóng đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dệt may Việt Nam.
Làn sóng thứ nhất là những DN, tập đoàn lớn (các DN Trung Quốc hoặc DN các nước đang hoạt động tại Trung Quốc) và những DN này đã nhanh chóng đầu tư phát triển dự án mới ở Việt Nam trong năm qua nhằm đón đầu cơ hội TPP.
Làn sóng thứ hai là những DN cũng có quy mô vốn khá lớn nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm đầu tư ở nước ngoài hoặc còn thận trọng khi đầu tư sang một nước khác. Các DN này đang chờ đợi thông tin bầu cử ở Mỹ cũng như xem có DN Trung Quốc đi trước đầu tư thành công rồi mới theo.
Làn sóng thứ 3 thuộc nhóm những DN nhỏ hơn (và cũng sẽ đi sau làn sóng đầu tư thứ hai).
Việt Nam vẫn rất hấp dẫn
Mặc dù tình hình đầu tư đã lắng xuống nhưng theo ông Giang, môi trường đầu tư ở Việt Nam vẫn còn rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
Dẫn nguồn khảo sát mới đây của Hiệp hội Dệt may thời trang Hoa Kỳ, ông Giang cho biết, có đến 68,8% các nhà bán lẻ, thương hiệu ngoại chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tiên nếu phải dịch chuyển đơn hàng từ Trung Quốc. Trước đây, Banglades là quốc gia đầu tiên được ưu tiên nhưng hiện nay, với tình hình chính trị phức tạp, an toàn lao động không đảm bảo... khiến nước này không còn hấp dẫn nữa.
Việt Nam được ưu tiên lựa chọn nhờ có lực kéo hấp dẫn về chi phí sản xuất và ưu đãi thuế quan. Cụ thể, về chi phí sản xuất (chi phí đất đai, năng lượng, lao động...) ở Việt Nam đều thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc. Hơn nữa, Việt Nam còn có ưu đãi về thuế quan nhờ vào các FTA với Nhật Bản, Hàn Quốc, EU... Các nước này cũng là những thị trường rất lớn của các nhà đầu tư dệt may.
Do đó, thời gian tới sẽ tiếp tục có làn sóng đầu tư của các DN FDI vào Việt Nam. Và thông tin về kết quả cuộc bầu cử ở Mỹ sẽ là một yếu tố thúc đẩy làn sóng thứ 2 của các DN đến từ Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam.
Với những khó khăn trong hiện tại như xuất khẩu tăng trưởng không bằng những năm trước (giá trị xuất khẩu hàng dệt may trong 8 tháng đầu năm 2016 đạt 15,64 tỷ USD, chỉ tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2015) mà nguyên nhân được cho là đơn hàng đang chạy sang các nước khác, tuy nhiên, ông Giang lại cho rằng, cầu về ngành may trên thế giới đang có vấn đề.
Một số DN cho biết, đơn hàng đang chạy sang Campuchia, Myanmar... nhưng thực sự là DN Campuchia hiện cũng đang rất thiếu đơn hàng. Theo thống kê của một công ty tư vấn ngân hàng, năm nay, đơn hàng của ngành may Campuchia giảm đến 30%.
Đó là chưa kể công nhân Campuchia có trình độ tay nghề thua xa Việt Nam. Cơ sở hạ tầng của họ cũng không tốt bằng Việt Nam trong khi lương đang được điều chỉnh tăng, nên lợi thế cạnh tranh của Campuchia sẽ không đáng ngại đối với ngành dệt may Việt Nam.

Cùng tìm hiểu về việc nhà đầu tư nước ngoài hào hứng với ngành điện

Gần đây, Tập đoàn Daewoo E&C (Hàn Quốc) đã đề xuất đầu tư Nhà máy Nhiệt điện than Long An 1 (huyện Cần Giuộc, Long An) với tổng vốn đầu tư khoảng 2,7 tỷ USD, công suất 1.320MW, dự kiến đưa vào vận hành sau năm 2020. Được biết, Daewoo đã xây dựng hơn 50 nhà máy nhiệt điện than, điện thủy triều, hạt nhân, thủy điện với công suất khoảng 30.000MW tại Hàn Quốc, Trung Đông và một số quốc gia châu Á khác. Song gần đây, Hàn Quốc có kế hoạch đóng cửa một số nhà máy nhiệt điện than, đồng thời giai đoạn 2017 - 2031 sẽ không có kế hoạch xây thêm nhà máy điện than.
Chẳng hạn, hồi đầu tháng 9 này, Tập đoàn Orix (Nhật Bản) và UOB (Singapore) đã đầu tư 50 triệu USD vào Bitexco Power - công ty con của Tập đoàn Bitexco. Công ty này hiện đang vận hành 18 nhà máy thủy điện tại Việt Nam với tổng công suất khoảng 1.000MW, cho phép các nhà máy sản xuất khoảng 3.500GWh năng lượng điện tái tạo hằng năm, đủ để cung cấp điện cho gần 2,7 triệu người sử dụng trong cả nước.
Bitexco có kế hoạch sử dụng nguồn vốn mới này vào việc mở rộng quy mô hoạt động và tăng vị trí dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Ông Seah Kian Wee - Giám đốc Điều hành UOB khá tự tin về tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ thúc đẩy nhu cầu về năng lượng tái tạo.
Trong khi đó với Orix, đây là khoản đầu tư khởi đầu để Tập đoàn tham gia mạnh mẽ hơn vào ngành năng lượng điện của Việt Nam. Trước Việt Nam, Orix đã đầu tư nhiều công trình điện gió ở Ấn Độ, trong khi ở Nhật, họ là một trong những nhà đầu tư dẫn đầu về điện mặt trời.
Gần đây, Tập đoàn Daewoo E&C (Hàn Quốc) đã đề xuất đầu tư Nhà máy Nhiệt điện than Long An 1 (huyện Cần Giuộc, Long An) với tổng vốn đầu tư khoảng 2,7 tỷ USD, công suất 1.320MW, dự kiến đưa vào vận hành sau năm 2020.
Được biết, Daewoo đã xây dựng hơn 50 nhà máy nhiệt điện than, điện thủy triều, hạt nhân, thủy điện với công suất khoảng 30.000MW tại Hàn Quốc, Trung Đông và một số quốc gia châu Á khác. Song gần đây, Hàn Quốc có kế hoạch đóng cửa một số nhà máy nhiệt điện than, đồng thời giai đoạn 2017 - 2031 sẽ không có kế hoạch xây thêm nhà máy điện than.
Daewoo chỉ là một trong những nhà đầu tư FDI tham gia ngành điện, bởi trước đó, Công ty Janakuasa Sdn.Bhd (Malaysia) đầu tư 2,4 tỷ USD xây dựng Nhà máy Điện Duyên Hải 2 tại Trà Vinh, công suất 600MW. Đây cũng là 1 trong 10 dự án FDI vào Việt Nam có vốn đăng ký lớn nhất năm 2014.
Hơn nữa, theo Quy hoạch điện VII (Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030), khoảng 11 dự án BOT nhiệt điện trải đều từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung cho đến Tây Nam bộ đã có nhà đầu tư ngoại, chủ yếu đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. Các dự án này đều có công suất lớn và được thực hiện trong giai đoạn từ 2014 - 2020.
Trong khi trước đó, từ năm 2004 - 2009, 7 nhà máy nhiệt điện (công suất 1.968MW) tại Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam đều cho thấy tính hiệu quả về mặt đầu tư, đáng chú ý có các nhà máy lớn như Nhà máy Điện Hiệp Phước (CT&D, Đài Loan đầu tư), BOT Phú Mỹ 3 (SembCorp, Singapore góp 1/3 cổ phần cùng đối tác Nhật Bản và Anh Quốc).
Theo Công ty CP Chứng khoán TP.HCM (HSC), trên thị trường niêm yết, cổ phiếu điện luôn được các nhà đầu tư ngoại (có thể kể đến như Halley Sicav - Halley Asian Prosperity, Deutsche Bank AG,...) quan tâm nhờ tỷ suất sinh lời ổn định trong dài hạn.
Chẳng hạn, tại một số công ty sản xuất điện niêm yết như Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại - PPC, tỷ lệ sở hữu nước ngoài chiếm 13,2% vốn điều lệ, Thủy điện Vĩnh Sơn Sông Hy (tỷ lệ sở hữu nước ngoài là 16,7%), Công ty CP Nhiệt điện Bà Rịa (9%)...
Song song với đầu tư tài chính, khối DN ngoại, chủ yếu là các tập đoàn đa quốc gia đã tham gia vào thị trường phát điện tại Việt Nam thông qua các hợp đồng BOT có giá trị hàng tỷ USD. Hình thức này nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ trong việc xây dựng và vận hành nhà máy, cho phép các nhà đầu tư tiếp cận, hoàn tất thủ tục sớm, thu hồi vốn và chi phí hoạt động nhanh.
Nói về hấp lực của ngành điện với nhà đầu tư ngoại, bà Vũ Thu Hà - Trưởng bộ phận phân tích, Khối khách hàng tổ chức, Chi nhánh HSC Hà Nội cho rằng, việc thị trường điện tại Việt Nam dần phát triển theo 3 cấp độ (thị trường phát điện cạnh tranh, thị trường bán buôn điện cạnh tranh và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh) sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài nhờ tăng tính cạnh tranh và minh bạch, giảm dần sự độc quyền của EVN trên thị trường điện.

Chia sẻ cùng bạn tiềm năng và rủi ro khi đầu tư vào ngành điện

Các nhà máy này sẽ được tham gia thị trường điện cạnh tranh khi thị trường bán buôn điện cạnh tranh được vận hành chính thức (thí điểm bước 1 vào năm 2016, vận hành thí điểm bước 2 giai đoạn 2017 - 2018, trong đó các công ty điện lực có thể mua từ 5 - 10% sản lượng điện của các nhà máy thông qua thị trường bán buôn và vận hành chính thức từ năm 2019).
Tuy nhiên, hệ thống điện Việt Nam chưa được phân bố đồng đều. Trong khi công suất của miền Bắc và miền Trung đang dư thừa với tỷ lệ dự phòng ước tính khoảng 40 - 56% tại miền Bắc và 67 - 130% tại miền Trung thì miền Nam tỷ lệ điện dự phòng là 0% và luôn thiếu điện vào mùa khô.
Ngoài ra, tiềm năng khai thác thủy điện của Việt Nam đang cạn kiệt dần và theo Quy hoạch điện VII định hướng phát triển mạnh nhiệt điện, thu hẹp thủy điện nên ở khía cạnh nào đó mang đến triển vọng tăng trưởng cho các DN đầu tư nhiệt điện.
Theo bà Vũ Thu Hà - Trưởng bộ phận phân tích, Khối khách hàng tổ chức, chi nhánh HSC Hà Nội, xét về hiệu quả đầu tư, biên lợi nhuận của các công ty sản xuất điện năng tương đối cao so với các ngành sản xuất khác. Trong đó, thủy điện có biên lợi nhuận gộp ở mức 50 - 60% còn các DN nhiệt điện có biên lợi nhuận gộp ở mức 15 - 20%. Nguyên nhân xuất phát từ hợp đồng mua bán điện giữa EVN và các nhà máy điện được ký kết dựa trên các khoản chi phí hợp lý và đảm bảo tỷ suất sinh lời nội tại về tài chính (IRR) không vượt quá 12%.
Các DN điện hoàn toàn không chịu rủi ro về việc thay đổi chi phí đầu vào với sản lượng bán theo hợp đồng PPA với EVN (hợp đồng mua bán điện giữa EVN và các chủ đầu tư nhà máy điện độc lập). Bên cạnh đó, do hiện EVN vẫn là bên mua điện độc quyền nên các nhà máy điện không phát sinh chi phí bán hàng.
Theo HSC, đầu tư vào ngành điện tuy nhiều tiềm năng nhưng cũng có những rủi ro. Cụ thể, các DN khối ngoại đầu tư chủ yếu theo hình thức BOT, trong khi EVN chưa cho phép các nhà máy điện BOT tham gia thị trường phát điện cạnh tranh.
Các nhà máy này sẽ được tham gia thị trường điện cạnh tranh khi thị trường bán buôn điện cạnh tranh được vận hành chính thức (thí điểm bước 1 vào năm 2016, vận hành thí điểm bước 2 giai đoạn 2017 - 2018, trong đó các công ty điện lực có thể mua từ 5 - 10% sản lượng điện của các nhà máy thông qua thị trường bán buôn và vận hành chính thức từ năm 2019).
Hiện tại, giá bán điện của các nhà máy điện hoàn toàn phụ thuộc vào EVN. Đối với mỗi hình thức sản xuất điện cũng sẽ chịu những rủi ro đặc thù, chẳng hạn, thủy điện chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình thủy văn biến động bất thường và khó dự báo.
Hơn nữa, chi phí đầu tư các nhà máy điện khá lớn, các DN thường vay ngoại tệ (đồng yen, won, USD...) từ các ngân hàng quốc tế nên biến động tỷ giá cũng là vấn đề tác động đến hoạt động. Chẳng hạn, năm 2015, đóng góp từ mảng hạ tầng điện của REE vào tổng doanh thu giảm do tác động của sự tăng giá đồng ngoại tệ và sản lượng điện giảm sút do khô hạn. Do vậy, để chống trượt giá, lạm phát và lãi vay thì DN cần mức tỷ suất sinh lợi yêu cầu từ 10 - 12% trên tổng vốn đầu tư.

Cơ hội có vuột khỏi tầm tay với ngành xuất khẩu tôm

Tại một số quốc gia nuôi tôm nhiều như Ấn Độ có khả năng giảm sản lượng do bệnh đốm trắng. Sản lượng tôm sú tại Banglades, Indonesia cũng có thể giảm do tác động từ biến đổi khí hậu. Ở nước ta, sau hạn hán và xâm nhập mặn, thời tiết hiện đang chuyển biến thuận lợi nên tôm phát triển tốt, khả năng đạt sản lượng theo kế hoạch là 680.000 tấn, xuất khẩu tiếp tục tăng. Dự báo xuất khẩu tôm nước lợ cả nước năm 2016 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2015.
Theo Cục Chế biến Nông lâm sản và Nghề muối, hiện nay Việt Nam có 350 cơ sở chuyên chuyên chế biến tôm xuất khẩu với công suất trên 1,4 triệu tấn/năm, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung, Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong 8 tháng đầu năm 2016, theo Tổng cục Thủy sản, giá trị tôm nước lợ chế biến xuất khẩu ước đạt 1,9 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2015 (đến ngày 15/8 đã xuất khẩu đạt kim ngạch 1,752 triệu USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2015), chủ yếu là tôm sú, tôm thẻ chân trắng đông lạnh.
Tiêu thụ tôm của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2016 tăng nhẹ do nhu cầu cao từ các thị trường chính, đặc biệt thị trường Mỹ, các nước EU trong khi nguồn cung đang giảm.
Theo đánh giá của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), tính đến giữa tháng 8/2016, Việt Nam xuất khẩu sang 80 thị trường, top 5 thị trường chính đều tăng, như Mỹ tăng 14%, EU tăng 4%, Hàn Quốc tăng 9%, Trung Quốc tăng mạnh nhất là 32%. Xuất khẩu tôm phục hồi nhờ tồn kho từ các thị trường chính giảm, nhu cầu tăng (đặc biệt nhu cầu tôm sú từ Mỹ và EU) và giá tôm có xu hướng tăng.
Việt Nam là nguồn cung tôm sú lớn nhất thế giới trong khi nhu cầu tôm sú ở Mỹ và Trung Quốc đang tăng mạnh. Dự báo giá tôm mấy tháng cuối năm ổn định hoặc tăng 10 - 15% do nhu cầu phục vụ các lễ hội cuối năm, là cơ hội cho Việt Nam gia tăng xuất khẩu.
Việt Nam và Mỹ đã ký thỏa thuận về thuế chống bán phá giá tôm. Việt Nam có lợi thế hơn các nước khác ở phân khúc tôm chế biến, cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.
Tại một số quốc gia nuôi tôm nhiều như Ấn Độ có khả năng giảm sản lượng do bệnh đốm trắng. Sản lượng tôm sú tại Banglades, Indonesia cũng có thể giảm do tác động từ biến đổi khí hậu.
Ở nước ta, sau hạn hán và xâm nhập mặn, thời tiết hiện đang chuyển biến thuận lợi nên tôm phát triển tốt, khả năng đạt sản lượng theo kế hoạch là 680.000 tấn, xuất khẩu tiếp tục tăng. Dự báo xuất khẩu tôm nước lợ cả nước năm 2016 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2015.
Mặc dù vậy, theo Tổng cục Thủy sản, tôm của Việt Nam vẫn còn gặp các rào cản về kỹ thuật, thuế quan. Với thị trường chủ lực là Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam còn bị đánh thuế chống bán phá giá. Xuất khẩu sang các nước khác như EU, ASEAN, Trung Quốc, Mỹ Latin khó khăn do sự tăng giá mạnh của đồng USD so với các ngoại tệ khác như euro, yen Nhật.
Cái khó nữa của ngành tôm Việt Nam là nguồn nguyên liệu không ổn định, hạn hán và xâm nhập mặn làm giảm sản lượng tôm nuôi. Khả năng cạnh tranh về giá và chất lượng kém hơn so với các nước do giá thành sản xuất cao (tôm chân trắng chi phí cao do thức ăn chiếm tới 70% giá thành), tỷ lệ tôm nuôi thành công của Việt Nam khá thấp trong khi chi phí đầu vào cao nên giá tôm nguyên liệu đắt hơn nhiều nước.
Để xuất khẩu tôm phát triển bền vững, Cục Chế biến Nông lâm sản và Nghề muối đề xuất Chính phủ nên có chính sách khuyến khích trực tiếp đối với những doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu hoặc liên kết chuỗi từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ tôm bằng vốn vay với lãi suất ưu đãi, tăng lượng vốn vay, được cho vay bằng ngoại tệ.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chiến lược phát triển dài hạn sản phẩm này bằng cách xây dựng chương trình hoặc đề án phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ tôm bền vững, triển khai mô hình thí điểm chợ bán đấu giá tôm tại các vùng trọng điểm để minh bạch về giá, kiểm soát chất lượng và hài hòa lợi ích các bên, xây dựng thương hiệu Tôm sú Việt Nam (đã bị dừng lại 4 năm trước); doanh nghiệp cần rà soát lại quy trình từ thức ăn, con giống, nuôi đến chế biến để giảm giá thành sản phẩm xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, thay đổi công nghệ sản xuất, chế biến sâu sản phẩm để nâng cao giá trị gia tăng con tôm, sản xuất sản phẩm sạch và an toàn, có giá phù hợp để thúc đẩy tiêu thụ trong nước.

Giới thiệu cùng bạn cách giải bài toán bán công ty

Theo các chuyên gia kinh tế, hầu hết các DN nhỏ và vừa bị phá sản là do năng lực cạnh tranh kém, thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường, khả năng mở rộng đầu tư và tiếp cận vốn còn hạn chế. Song, điều đáng ghi nhận là trước khi phá sản, nhiều DN nhỏ và vừa đã cố gắng đầu tư đổi mới công nghệ, nhà xưởng để tăng năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, do yếu về tài chính nên không ít DN sau khi mạnh dạn đầu tư lại khó khăn hơn.
Tìm gặp lãnh đạo Việt Hương sau mẩu tin Công ty bị rao bán, ông Nguyễn Kim Ngân - TGĐ Công ty Việt Hương cho biết, Công ty được thành lập năm 2002. Năm 2012, sau khi đầu tư công nghệ sản xuất xúc xích tiệt trùng, chi phí đầu tư nhà xưởng, trang thiết bị ngốn mất vài chục tỷ đồng, trong khi lãi suất thời điểm vay lại khá cao, cộng với công nghệ sản xuất hiện đại, đòi hỏi phải "nuôi" đội ngũ kỹ sư với mức lương cao gấp ba, bốn lần công nhân bình thường.
Trong khi đó, đầu ra chưa ổn định, không cân bằng được doanh thu với chi phí đầu tư, vận hành nên nguồn vốn Công ty ngày càng cạn và lâm vào khó khăn. "Nếu không bán Công ty thì nguy cơ thiếu vốn sản xuất và phá sản là khó tránh. Vì vậy, chúng tôi phải đi đến quyết định này", ông Ngân nói.
Thực tế những năm qua, không ít doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa phải rao bán công ty trước khi chính thức công bố phá sản. Theo số liệu của Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đăng tải trên Dân Trí, 6 tháng đầu năm 2016, có hơn 36.600 DN phá sản và chờ phá sản.
Về cơ cấu vốn, trong số hơn 7.480 DN giải thể, 93,2% là DN nhỏ và vừa có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, hơn 200 DN có quy mô vốn từ 10 - 20 tỷ đồng, 57 DN có vốn từ 20 - 50 tỷ đồng, 75 DN có quy mô vốn từ 50 - 100 tỷ đồng và 69 DN có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng.
Theo các chuyên gia kinh tế, hầu hết các DN nhỏ và vừa bị phá sản là do năng lực cạnh tranh kém, thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường, khả năng mở rộng đầu tư và tiếp cận vốn còn hạn chế. Song, điều đáng ghi nhận là trước khi phá sản, nhiều DN nhỏ và vừa đã cố gắng đầu tư đổi mới công nghệ, nhà xưởng để tăng năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, do yếu về tài chính nên không ít DN sau khi mạnh dạn đầu tư lại khó khăn hơn.
Chia sẻ vấn đề này, ông Đỗ Thanh Năm - Giám đốc Công ty Tư vấn và Hỗ trợ chiến lược Win-Win cho rằng, rất nhiều DN trước khi công bố phá sản đều có chính sách đầu tư, cải tổ bộ máy. Tuy nhiên, vốn vẫn là rào cản lớn. "Nhiều DN đã cố gắng chạy tìm đối tác góp vốn nhưng tỷ lệ thành công dường như rất ít. Có công ty được mua lại nhưng giá mua được trả rất... rẻ”, ông Năm cho biết.
Cũng là một DN đang tìm đối tác sang nhượng, bà Nguyễn Lâm Hương - đại diện Công ty Thực phẩm Hoàng Thiên Hương cho biết, do sức ép cạnh tranh của thị trường, DN đã mạnh dạn đầu tư nhà xưởng, đổi mới thiết bị nhưng càng làm càng khó nên đã tìm đối tác góp vốn hoặc bán đứt Công ty. Tuy nhiên, gần 2 năm qua vẫn chưa tìm được đối tác mua với giá hợp lý.
Theo bà Hương, "cái khó của DN là quy mô nhà xưởng không lớn, nhất là các sản phẩm không quá khó sản xuất và cũng không có "bí mật" công nghệ nên các nhà đầu tư không mặn mà. Thậm chí, có công ty đến tìm hiểu doanh thu, thị trường nhưng sau đó thì... chính các DN này lại ra sản phẩm giống như sản phẩm của Hoàng Thiên Hương", bà Hương phản ánh.
Ông Đỗ Thanh Năm cho rằng, bất lợi lớn nhất của các DN nhỏ và vừa là nội lực yếu, đội ngũ nhân sự ít, không chuyên nghiệp, quy mô nhà xưởng, công nghệ không quá hiện đại nên tài sản của họ rất khó định giá. Bên cạnh đó, giá trị thương hiệu cũng không lớn nên việc rao bán công ty rất khó. Có chăng lợi thế của các DN này chỉ nằm ở kênh phân phối. Vì vậy, muốn bán công ty hoặc kêu gọi hợp tác, các DN này phải kết hợp với những công ty nằm trong chuỗi giá trị của họ.
Ông Phạm Việt Anh - Chủ tịch Left Brain Connectors cũng cho rằng: "Các DN nhỏ và vừa có mô hình kinh doanh không nổi trội, sản phẩm giản đơn rất khó kêu gọi nhà đầu tư góp vốn hay mua lại DN. Hiện nay, hơn 80% DN nhỏ và vừa kinh doanh sản phẩm giản đơn. Tuy nhiên, nếu các DN này có nguồn vốn trí tuệ, ý tưởng kinh doanh hấp dẫn và có giải pháp, chiến lược để phát triển sản phẩm mang lại giá trị hữu ích cho xã hội và người tiêu dùng nhưng đang thiếu vốn, chưa có cơ hội đầu tư thì vẫn có thể thuyết phục các nhà đầu tư góp vốn hoặc mua lại công ty theo thỏa thuận. Thực tế câu chuyện của Phở 24 là một minh chứng. Chỉ cần có ý tưởng mới mẻ, thương hiệu này đã tạo ra động lực tăng trưởng tốt và ngay sau đó đã thu hút nguồn vốn đầu tư và đã thành công trong các thương vụ M&A".